Chương 5: Cầm Nương Vãn Quy Chương 5
Truyện: Cầm Nương Vãn Quy
Cầm Nương vừa vào phòng đã khóc lóc vật vã ngã nhoài lên sập gấm, nước mắt nước mũi đầm đìa ướt đẫm cả vạt áo trước ngực.
“Hắn xé rách xiêm y tất vớ của muội, dùng chiếc giày hôi hám đựng hoa quả ép muội ăn, hắt cả chén rượu vào mặt muội, lại còn muốn trói hai chân muội vào cột giường… Muội, muội liều mạng la hét rồi cào cấu hắn…”
“Bọn nhà giàu đó đùa giỡn thân xác chúng ta chưa thỏa, còn khăng khăng muốn giẫm đạp lên cả chút thể diện cuối cùng, chẳng lẽ chúng ta trời sinh đã là thứ đê tiện hay sao?!”
“Phượng Nương, tỷ tha cho muội lần này thôi, chỉ một lần này thôi…”
Ta bị cảnh tượng trước mắt dọa cho khóc thét lên òa òa, Phượng Nương liền lạnh giọng quát tỳ nữ một câu: “Cái con tỳ không có mắt kia, còn không mau dắt Hà tỷ nhi đi!”
Sau đó nàng ta liền bước tới đỡ lấy Cầm Nương đang giàn giụa nước mắt.
Tỳ nữ dắt ta ra ngoài sân chơi đùa, cách một cánh cửa sổ, ta nghe thấy Phượng Nương thở dài nói:
“Ta đã sớm nhìn ra muội không còn như xưa nữa rồi. Ngày trước chỉ cần có vàng bạc thì dẫu là loài cóc ghẻ muội cũng tiếp đãi, tàn bạo dâm ô đến đâu muội cũng cắn răng chịu đựng, nhưng hôm nay… Than ôi, cái đồ ngốc này, muội, muội đã chìm vào biển khổ của chữ tình rồi.”
Tên Lưu thiên hộ kia há phải hạng dễ trêu vào? Huống chi mặt gã còn bị Cầm Nương cào rách mấy vệt máu dài.
Trần mụ mụ phải khom lưng uốn gối nói hết lời ngon ngọt mới tạm thời hóa giải được hai phần cơn giận của gã.
Tám phần còn lại, Trần mụ mụ phải tìm người có uy vọng trong huyện đứng ra hòa giải, Phượng Nương lại phải nhận lời bồi rượu hoa cùng gã suốt ba ngày, mối phong ba này mới miễn cưỡng xem như êm xuôi.
Vì phải bồi thường biết bao nhiêu bạc vàng, Trần mụ mụ nổi trận lôi đình, nằng nặc đòi đuổi hai chúng ta ra khỏi cửa.
“Đến từ đâu thì cút về nơi đó, cái miếu nhỏ này của ta không chứa nổi bức tượng Bồ Tát lớn như ngươi.”
Ta đứng bên cạnh Cầm Nương, Cầm Nương quỳ sụp dưới đất: “Mụ mụ, xin ngài rủ lòng thương xót, ngài…”
Trần mụ mụ đảo tròn mắt trắng dã, phất tay sai người tới lôi kéo chúng ta tống cổ đi.
Ngay lúc đang giằng co dằng dai, Phượng Nương khoác chiếc áo bông lụa trắng, mặc váy màu cánh sen, thần thái kiêu sa đẩy cửa bước ra.
Nàng ta khẽ hé môi son, cười khẩy nói với Trần mụ mụ bằng giọng nhàn nhạt: “Mụ mụ, ở cái viện này, ai đi ai ở, rốt cuộc là do ai định đoạt?”
Phượng Nương là cây rụng tiền của Trần mụ mụ, là chậu tụ bảo trên cõi đời này mà bà ta tuyệt đối chẳng dám đắc tội.
Mà tòa trạch viện nằm bên bờ sông Lăng Hoa này cũng chính là của Ngô đại quan nhân cho Phượng Nương mượn để ở.
Cho nên, Cầm Nương cùng ta được giữ lại.
Thế nhưng giữ thì được giữ lại, đãi ngộ lại kém cỏi đi muôn phần.
Son phấn không còn, điểm tâm hoa quả không còn, xiêm y trâm thoa lụa là cũng chẳng thấy đâu.
Cầm Nương trở thành phụ bếp làm việc nặng nhọc trong viện này, mỗi ngày vùi mình trong bếp nấu nước pha trà, hấp điểm tâm, cơm ba bữa chỉ có thể gặm bánh màn thầu nguội ngắt.
Thế nhưng Cầm Nương lại biết đủ: “Màn thầu thơm ngon biết bao, ha ha ha, vừa nguội lại vừa thơm.”
Mối quan hệ giữa Phượng Nương và Cầm Nương cũng hòa hoãn đi không ít, có khi đêm dài dằng dặc, Cầm Nương còn dẫn ta sang phòng Phượng Nương chơi đùa.
Phượng Nương ngày thường ít nói, chỉ thích tựa bên giường đọc thơ văn.
Mỗi độ như thế, Cầm Nương liền ngồi bên mép sập tĩnh lặng thêu thùa may vá, còn ta thì ghé trên chiếc đôn gấm nhỏ tập viết chữ.
Tháng Tư cuối xuân, tiết trời sớm tối mát mẻ dễ chịu, cỏ cây tươi tốt, hoa thơm bắt đầu nở rộ, Phượng Nương dưới ánh trăng bên song cửa cất giọng ngâm đọc: “Thượng cổ có loài đại xuân, lấy tám ngàn năm làm mùa xuân, tám ngàn năm làm mùa thu.”
Cầm Nương đang thắt đai lưng bỗng khựng người lại, không kìm được ngẩng đầu hỏi: “Là chữ xuân nào thế?”
Phượng Nương mím môi cười: “Chữ xuân thứ hai là chữ xuân trong tương tư xuân tình.”
“Thế chữ thứ nhất thì sao?”
“Chữ xuân thứ nhất là chữ xuân trong Chu Xuân Đường.”
Hai má Cầm Nương lập tức đỏ ửng, tiện tay vớ lấy chiếc khăn tay ném thẳng vào mặt Phượng Nương rồi mắng: “Cái đồ miệng lưỡi trơn tru này, tỷ hư hỏng chết đi được!”
Đoạn nàng quay đầu lại, chột dạ liếc nhìn ta.
Ta lúc ấy đang chăm chú viết chữ, lòng không vướng bận ngoại vật, coi như tai điếc mắt ngơ.
Thấy ta không có bất kỳ biểu hiện khác lạ nào, sắc mặt Cầm Nương mới giãn ra, liền lườm nguýt liếc xéo Phượng Nương một cái:
“Trước mặt Hà tỷ nhi, tỷ bớt nói hươu nói vượn đi.”
Cuộc đảng tranh chốn kinh kỳ cứ thế kéo dài dai dẳng đến tận tháng Sáu, tháng Sáu triều đình ban hạ phán quyết.
Tài sản Chu gia bị tịch thu sạch sẽ, gia nô bị phát mại sung công, cha mẹ ta cùng trưởng huynh và ấu đệ đều phải chịu áp giải đến phủ Đại Danh để chịu cảnh giam cầm ngục tù.
Cha ta nhậm chức ở huyện Lăng Thủy được nửa năm, làm quan thanh chính cần cù, liêm khiết tiết kiệm có chừng mực, dân chúng từng một thời đồng lòng ngợi khen ca tụng.
Thế nhưng sau khi cha ta sa vào chốn lao tù, miệng lưỡi thế gian cũng dần dà đổi khác.
Bọn họ bĩu môi dè bỉu: “Nếu thật sự là vị thanh quan thì triều đình đời nào bắt ông ta chứ? Hừ, chỉ sợ lại là thứ mã ngoài tô vàng nạm ngọc mà bên trong thì thối rữa mục ruỗng!”