Chương 9: Truyền kỳ hoàng phi Lý Thiết Trụ Chương 9
Truyện: Truyền kỳ hoàng phi Lý Thiết Trụ
9
Ngày đầu tiên ở làng, Ngụy Nghiệp Chiêu sắp xếp kế hoạch sản xuất nông nghiệp của chúng ta đâu ra đấy.
Chàng bảo mùa này trước hết phải cấy mạ, đến giữa hè là có thể thu hoạch lương thực, đồng thời trồng thêm ít rau củ quả thì cuộc sống sẽ ổn thỏa thôi. Mùa thu thì trồng lúa mạch, để mùa xuân năm sau có lúa mạch tự trồng mà làm bánh mì, gói sủi cảo.
Có thể thấy Ngụy Nghiệp Chiêu rất hào hứng với tương lai, chàng còn không quên khoe khéo với ta rằng chàng từng cầm cuốc tự tay xới đất rồi cơ đấy.
Trong khi ta quét dọn nhà cửa, chẻ củi, dùng số lương thực dự trữ mà Bệ hạ đã chuẩn bị sẵn để nấu cơm, ta vẫn phải thỉnh thoảng dừng tay để dành cho phu quân mình một ánh mắt đầy ngưỡng mộ.
Ngụy Nghiệp Chiêu thấy thỏa mãn lắm, cứ như thể chàng đã hoàn toàn đủ sức nuôi sống ta vậy. Ăn cơm xong, chàng bảo muốn giúp một tay, thế là chàng đi rửa bát, và kết quả là chúng ta mất sạch bộ bát đĩa, từ sau đó phải dùng tay bốc cơm mà ăn.
Nhưng Ngụy Nghiệp Chiêu không vì lỗi nhỏ đó mà nản lòng. Sáng sớm hôm sau, chúng ta tràn đầy tự tin đứng trước mảnh đất của mình, và vấp phải khó khăn đầu tiên.
Chúng ta đi cấy, nhưng chẳng có mạ.
Theo tưởng tượng của Ngụy Nghiệp Chiêu, lúc này lẽ ra phải có người mang mạ đến dâng, rồi chàng sẽ xắn ống quần, tay cầm mạ hăng hái lao động trên đồng.
Nhưng chẳng thấy mạ đâu cả.
Ngụy Nghiệp Chiêu nhìn mảnh đất rồi suy nghĩ rất lâu.
Một lão nông ở ruộng bên cạnh cũng dừng tay nhìn chúng ta rất lâu.
Cuối cùng ông cụ chủ động bước tới, hỏi vẻ đầy bí hiểm: mảnh đất này rốt cuộc có cái gì mà hai đứa cứ nhìn chằm chằm thế?
Ngụy Nghiệp Chiêu nhân cơ hội hỏi cụ về chuyện cấy mạ. Ông cụ lộ rõ vẻ thất vọng, cụ cứ tưởng chúng ta đến xem phong thủy hay đi bắt yêu quái, ai ngờ lại đi hỏi một câu ngớ ngẩn đến vậy.
Cụ bảo muốn cấy mạ thì trước hết phải có mạ, muốn có mạ thì phải gieo mầm, muốn gieo mầm thì trước hết phải cày ruộng.
Nghĩa là, đầu tiên chúng ta phải có một con trâu.
Và rồi chúng ta phát hiện ra mình đúng là có một con trâu thật.
Khi tìm thấy con trâu của nhà mình trong chuồng sau nhà, nó đã đói đến mức lả đi, nằm bẹp trên đất với vẻ đầy oán trách. Vì thế trong những lần “hợp tác” sau đó, nó tỏ ra cực kỳ không phối hợp.
Mỗi ngày trước khi bắt đầu công việc, Ngụy Nghiệp Chiêu đều phải tâm sự với nó, trò chuyện để bồi đắp tình cảm, thể hiện sự tôn trọng và thấu hiểu, thậm chí còn hứa trước khi đi sẽ tìm cho nó một cô trâu tơ xinh đẹp làm vợ.
Con trâu lúc này mới miễn cưỡng có chút động lực, nhưng những ngày gian khổ mới thực sự bắt đầu.
Chuyện gì cũng vậy, lúc đầu thì hừng hực khí thế, về sau mới thấy khó khăn chồng chất.
Lúc đầu ta rất lo Ngụy Nghiệp Chiêu không vượt qua nổi. Ngày nào về nhà chàng cũng mệt phờ, có khi chẳng còn sức mà rửa mặt, đánh răng hay ăn cơm nữa. Làn da trắng trẻo mịn màng của chàng cũng ngày càng đen sạm và thô ráp đi.
Trên đường đi đưa cơm cho chàng, không biết bao nhiêu lần ta tưởng tượng ra cảnh chàng đang ngồi bệt bên bờ ruộng mà khóc. Ta vừa nghĩ vừa bước nhanh hơn, nhưng kết quả ta thấy lại là một cảnh tượng rất ấm áp.
Chàng đi chân đất, người đầy bùn đất, đang ngồi bệt dưới gốc cây cùng bác hàng xóm, uống nước tương, gặm bánh bao của người ta, rồi cười hì hì hỏi: “Bác ơi, vợ cháu sợ rắn lắm, giờ trời nóng lên rồi có cách nào đuổi rắn không bác?”
Sau đó chàng vác cuốc, trồng một vòng cây bụi gai quanh nhà.
Cuộc sống của chúng ta ở Lâm Hào trôi qua bình dị mà đủ đầy. Tuy gặp nhiều khó khăn nhưng Ngụy Nghiệp Chiêu đều kiên cường vượt qua, nhìn chung là rất vui vẻ.
Điều không vui duy nhất là những lời đồn đại về chúng ta trong làng.
Từ khi chúng ta dọn đến ngôi làng nhỏ này, dân làng đã vô cùng chú ý. Mọi người lúc rảnh rỗi thường tụ tập ở đầu làng, bàn tán xôn xao về ngôi nhà của chúng ta và đoán già đoán non về danh tính của hai đứa.
Cuối cùng, họ chốt hạ một phiên bản thế này: Ngụy Nghiệp Chiêu là con nhà giàu, vì bất hiếu nên bị đuổi khỏi nhà. Hắn là kẻ lười biếng, chỉ thích phá tiền chơi bời, cuối cùng chỉ còn ta — người vợ cả không được sủng ái — là vẫn chung thủy, theo hắn về quê làm ruộng.
Mọi người lấy Ngụy Nghiệp Chiêu ra làm gương để dạy bảo con cháu phải hiếu thảo, cầu tiến, và dặn chồng mình rằng chỉ có người vợ tào khang mới là người không bao giờ rời bỏ mình.
Ta không khỏi ngạc nhiên trước trí tưởng tượng phong phú của mọi người, đôi khi nó lại hợp lý một cách kỳ lạ.
Có lần ta giận quá định xông ra cãi lý với họ, nhưng chính “kẻ bất hiếu chỉ thích phá tiền chơi bời” là Ngụy Nghiệp Chiêu lại tỏ ra rất thản nhiên. Chàng bảo “buôn chuyện” thực ra là một hình thức giải trí của người dân sau khi đã ăn no mặc ấm, giúp phong phú đời sống tinh thần, cũng có mặt tích cực nên chúng ta nên bao dung một chút.
Ta bảo chàng, họ còn nói chàng cày ruộng chẳng có tí sức lực nào, ngoài cái mặt đẹp ra thì chẳng được tích sự gì, không khéo còn mang đầy bệnh trong người nữa. Họ rất thương hại ta, còn bảo nếu ta muốn lấy chồng khác thì họ sẽ giới thiệu cháu của ông cậu bên nhà bà dì ở làng bên cho.
Ngụy Nghiệp Chiêu lập tức vác rìu lên, giận đùng đùng hỏi: “Ở đâu! Đứa nào dám nói năng lung tung như thế!”
Để tránh việc có người lại khuyên ta lấy chồng khác, Ngụy Nghiệp Chiêu quyết định phải cứu vãn danh tiếng của mình.
Chàng nảy ra ý định dạy chữ cho trẻ con trong làng.
Chúng ta đi từng nhà để điều tra xem nhà nào có con nhỏ, bao nhiêu đứa, mấy tuổi, đã từng học chữ bao giờ chưa.
Câu trả lời nhận được là hầu hết trẻ em đều mù chữ, và gia đình cũng chẳng có tiền dư để cho chúng đi học.
Phải đến khi chúng ta khẳng định chắc chắn đây là lớp học tình thương, không thu một xu nào, các bậc phụ huynh mới miễn cưỡng đồng ý.
Ngụy Nghiệp Chiêu suy nghĩ mất ba đêm, quyết định dùng cuốn “Tam Tự Kinh” để dạy vỡ lòng, và chàng còn chân thành mời ta tham gia làm trợ giảng.
Nghĩa là trước tiên ta sẽ dùng nhịp tre để biểu diễn một đoạn nội dung trong “Tam Tự Kinh” cho bọn trẻ thấy hứng thú, sau đó chàng mới dạy chúng cách đọc, cách viết và giải thích ý nghĩa.
Thế là mỗi buổi chiều tối, sau khi xong việc đồng áng, ta lại ra đầu làng gõ nhịp tre. Giữa tiếng tre gõ lách cách giòn giã, ta cất giọng hát đầy truyền cảm: “Này các em, nhân chi sơ, tính bản thiện, tính tương cận, tập tương viễn nhé.”
Bọn trẻ vây quanh ta cũng đồng thanh: “Dạ, dạ.”
Các bậc phụ huynh thì đứng vòng ngoài cũng: “Ờ, ờ.”
Hình thức dạy học này thành công rực rỡ. Ngụy Nghiệp Chiêu nhanh chóng từ một “kẻ bất hiếu vô dụng” trở thành thầy giáo Diệp, cuộc sống của chúng ta cũng khá lên nhiều vì thường xuyên được mọi người mang cho rau quả tươi ngon.
Vào lúc thời tiết nóng nực nhất, cuối cùng chúng ta cũng được ăn những hạt cơm do chính tay mình trồng. Ngụy Nghiệp Chiêu lặng lẽ ăn hết bát cơm trắng tinh, rồi một mình đi ra sườn đồi sau nhà.
Lúc ta đi theo ra, chàng đang đứng thẫn thờ nhìn những cánh đồng trải dài và những nếp nhà thấp thoáng.
Chàng chỉ vào khung cảnh làng quê yên bình dưới ánh hoàng hôn và bảo ta: “Trụ Tử à, người dân muốn sống một cuộc đời giản đơn thế này thôi.”
Đúng vậy, cuộc sống mà người dân mong ước thực sự rất đơn giản.
Ánh chiều tà vô tận, khói bếp tỏa lan khắp nơi.
Ta không nghi ngờ gì việc phu quân mình sau này sẽ là một vị minh quân. Chàng đã làm đúng như lời dặn của ông nội, nghiêm túc quan sát và cảm nhận cuộc sống của dân chúng.
Khi chàng nằm trên chiếc ghế bập bênh trong sân, hóng gió đêm và tỏ vẻ buồn bã, lòng ta thấy xúc động vô cùng. Chàng chắc hẳn đang trăn trở xem mình có thể làm gì cho người dân đây.
Chàng im lặng một lát rồi bảo ta: “Những năm qua ông nội đánh dẹp biên cương, làm trong sạch triều chính, dùng những biện pháp tàn khốc, chẳng phải cũng là vì thiên hạ, vì con cháu sau này sao? Vậy mà ai cũng sợ ông, ghét ông, đến lúc ông nằm trên giường bệnh, chẳng có lấy một người thực lòng quan tâm.”
Rồi chàng hỏi ta: “Trụ Tử, nàng thấy ta có hiếu thảo không?”
Ta không ngờ chàng lại đang suy nghĩ về một vấn đề nặng nề như vậy.
Sự xúc động chuyển thành niềm xót xa, ta nhìn chàng đầy trìu mến.
Chàng nặng nề lắc đầu, tự phủ định: “Chẳng hiếu thảo chút nào. Hiếu thảo thật sự là phải đứng ở vị trí của ông nội mà suy nghĩ. Ví dụ như tâm nguyện của ông là gì? Là được bế chắt nội. Vậy mà đến giờ ta vẫn chưa làm ông toại nguyện, ta thật là tội lớn quá mà!”
Rồi chàng nghiêm túc nhìn ta, hỏi ta có nên cùng chàng bù đắp cho ông nội không? Chẳng hạn như ngay đêm nay này.
Ta đứng phắt dậy bỏ đi luôn.
Ta chưa thấy ai mặt dày như cái người này.
Trên danh nghĩa chúng ta đang đi trông lăng, Ngụy Nghiệp Chiêu tất nhiên chẳng dám thực sự “bù đắp” cho ông nội một đứa chắt ngay lúc này. Nhưng vì người này trước đây đã dày công nghiên cứu sách vở về chuyện phòng khuê, nên giờ đây chàng rất chăm chỉ áp dụng vào thực tế. Thế nên Ngụy Nghiệp Chiêu của những đêm sau đó đúng là kẻ dẻo miệng, lắm mưu nhiều kế.
Những ngày ở Lâm Hào trôi qua nhanh thoăn thoắt. Sang thu, thời tiết se lạnh, ánh trăng cũng trở nên trong trẻo hơn.
Chúng ta nằm trên chiếc giường gỗ đơn sơ, nhìn ánh trăng sáng như nước xuyên qua tấm màn mỏng, bốn bề tĩnh lặng vô cùng.
Đúng lúc đó, từ góc phòng vang lên tiếng dế kêu, ta mừng rỡ quay sang nhìn Ngụy Nghiệp Chiêu.
Ngụy Nghiệp Chiêu gối đầu lên tay, vẻ mặt lại rất thản nhiên.
Chàng lầm rầm đọc mấy câu thơ: “… Tháng bảy ở ngoài đồng, tháng tám ở dưới hiên, tháng chín ở cửa nhà, tháng mười con dế vào dưới giường ta…”
Chàng bảo: “Dân chúng vất vả với việc đồng áng, sinh ra trong những gian nhà tranh vách đất, cơm chẳng đủ ăn, áo chẳng đủ mặc, vậy mà họ gánh vác cả thiên hạ trên vai.”
Ta thấy trong mắt chàng rưng rưng lệ.
Thực ra ta rất luyến tiếc cuộc sống như thế này, nhưng chẳng bao lâu sau, chúng ta đã phải rời khỏi Lâm Hào.