Chương 10: Lang Hoài Hữu Ngọc Chương 10

Truyện: Lang Hoài Hữu Ngọc

Mục lục nhanh:

Huyện Vân An thuộc quận Thao Châu, tin tức vốn chẳng lạc hậu. Hỏi thăm mới biết từ cuối năm ngoái, các bộ lạc du mục như Mãn Kim, Thiết Lặc ở phía Bắc không ngừng quấy nhiễu biên giới. Ban đầu chỉ là những cuộc xung đột nhỏ, quân Đại Sở vừa xuất trận là chúng tan tác ngay.
Nhưng gần đây, chúng đã kết minh với nhau, vượt qua giới Bắc Quan, chiếm được Bình Thành và huyện Võ Tì, thảm sát hàng trăm người dân. Thiên tử nổi giận, hạ lệnh xuất binh chinh phạt.
Suốt hai ngày đó ta không lúc nào ngơi tay, chọn mua loại da cừu và vải tốt nhất, thức thâu đêm để khâu áo ấm.
Đi lính đánh trận, bên ngoài phải mặc áo giáp, để thuận tiện cử động nên áo mặc bên trong không được quá dày nhưng phải đủ ấm. Bùi Nhị Lang cao chừng tám thước, thân hình cân đối, ta may một chiếc áo vừa vặn, phần ngực và lưng đều được lót một lớp da cừu dày dặn. Lớp lông cừu áp sát vào người chắc chắn sẽ rất ấm áp.
Cùng với bao đầu gối và áo kẹp bông, ta kịp thời mang ra trạm dịch gửi đi mới thấy nhẹ lòng.
Cuộc chiến ở biên quan kéo dài ròng rã gần ba năm.
Theo lời người lính trạm dịch, trong quân doanh tuy có phát áo bông nhưng thường không vừa kích cỡ, lớp bông bên trong lại mỏng, chỉ đủ che chắn qua loa. Những lính có điều kiện thường được gia đình gửi áo da cừu sang. Da cừu ấm hơn vải bông nhiều, ai nhận được món đồ đó trong quân doanh đều khiến người khác phải ghen tị. Những nhà nghèo hơn thì cũng cố gửi cho con em mình đôi bao đầu gối hay chiếc áo kẹp bông.
Người lính đó kể rằng mỗi mùa đông, trạm dịch của họ nhận được nhiều nhất chính là bao đầu gối và áo kẹp bông.
Ta nghe vậy không khỏi ngạc nhiên: “Năm nào họ cũng gửi sao?”
“Đúng vậy, cô không biết đấy thôi, biên cương lạnh giá lắm, gió thổi như dao cắt vào da thịt. Nếu không thì đám giặc cỏ kia làm sao cứ liều mạng muốn chiếm địa bàn của ta, mùa đông với chúng là khổ nhất.”
Ta nhíu mày trầm tư. Nhị Lang đi lính từ khi còn niên thiếu, tính đến nay đã bảy năm ròng, vậy mà từ khi ta về Bùi gia chưa từng thấy thím Bùi gửi quần áo cho hắn lần nào. Nghĩ đến đây ta khẽ thở dài.
Năm sau, khi tiền bạc dư dả hơn, ta may cho hắn một chiếc áo da cừu tốt hơn, ấm hơn, còn làm thêm đôi bao đầu gối lót lông dày. Năm tiếp theo cũng vẫn như vậy. Khi gửi đồ ta thường kèm theo một bức thư nhà ——
“Thái mẫu vẫn khỏe mạnh, Tiểu Đào đã đi học tư thục, tiệm làm ăn phát đạt, trong nhà mọi sự đều ổn, nhị thúc đừng quá lo lắng, mong người bình an trở về.”
“Trong nhà mọi sự đều tốt, Thái mẫu ăn uống ngon miệng, chỉ có Tiểu Đào là lười học, tiệm tào phớ ngày càng đông khách, hàng xóm đều khen tay nghề chẳng kém gì bác Bùi năm xưa. Hiện giờ chúng ta còn bán thêm canh lòng gà, mười lăm văn một bát, có thêm cả miến có thể ăn cùng bánh nướng, mùa đông ăn một bát thấy ấm người lắm. Đợi nhị thúc về nhất định phải nếm thử, mong người bình an trở về.”
“Trong nhà mọi sự bình an, thường đưa Thái mẫu ra bờ sông đi dạo. Chỉ có Tiểu Đào là khó bảo, trốn học tư thục lại còn đánh nhau với bạn, nhị thúc về nhớ phải dạy bảo con bé thật nghiêm, mong người bình an trở về.”
Chiến sự biên cương căng thẳng, ta vốn chẳng mong nhận được hồi âm, nào ngờ sau khi gửi bức thư của năm thứ hai đi, lính trạm dịch lại mang thư của hắn đến cho ta. Chữ viết đúng là của hắn, trên thư chỉ có vẻn vẹn một chữ “Được”. Sang năm thứ ba, vẫn lại là một chữ “Được”.
Vì Nhị Lang mà ta đặc biệt quan tâm đến tình hình chiến sự, thường xuyên nhờ chú Triệu hỏi thăm tin tức từ nha môn.
Đến năm thứ ba, chiến sự cuối cùng cũng kết thúc. Quân Đại Sở thắng lớn, đánh tan quân địch, triều đình còn lập thêm cửa ải Sát Hồ ngoài giới Bắc Quan. Thánh thượng vô cùng hài lòng, hạ lệnh khao thưởng quân sĩ và luận công ban thưởng.
Mùa đông năm đó, ta vẫn định mua da cừu và vải tốt nhất để may áo cho hắn, nhưng chiếc áo còn chưa khâu xong thì đã nghe tin binh sĩ từ biên cương sắp trở về kinh thành, những người lập công sẽ được phép về quê thăm thân.
Vài ngày sau, Bùi Nhị Lang thật sự đã trở về.
Hắn không đi một mình mà dẫn theo khoảng tám chín binh tướng, ai nấy đều mặc áo giáp, đi ủng quân dụng, cưỡi trên những con chiến mã dũng mãnh, oai phong lẫm liệt. Họ vào thành từ cửa phía Tây, phi ngựa từ đường lớn vào tận hẻm Sư Tử, tiếng vó ngựa rầm rập thu hút sự chú ý và bàn tán của bao người.
Đang lúc giữa trưa nắng ấm, tiệm tào phớ ở phố Nam hẻm Sư Tử đang lúc đông khách. A Hương đang múc tào phớ còn ta thì bận rộn bưng ra bàn cho khách.
Vừa đặt hai bát tào phớ xuống chiếc bàn kê vỉa hè, ta chợt nghe thấy tiếng vó ngựa dồn dập từ xa lại gần. Ta tò mò ngước nhìn lên, thấy đám đông phía trước vội vã dạt ra nhường lối cho một đoàn người ngựa.
Con ngựa đi đầu khựng lại, hai vó trước tung lên rồi dừng hẳn. Người đàn ông ngồi trên lưng ngựa cao lớn uy nghi giữa ánh nắng mặt trời, khoác trên mình bộ giáp đen sáng loáng phản chiếu ánh sáng khiến người ta phải chói mắt.
Đợi khi nhìn rõ, ta thấy người đó có đôi mày kiếm sắc sảo, đôi mắt đen thâm trầm thon dài, đôi môi mỏng mím chặt, cằm cương nghị lạnh lùng. Đôi mắt nâu sẫm ấy đang lặng lẽ và sâu thẳm nhìn chằm chằm vào ta.
Bốn mắt nhìn nhau, ta phải mất một lúc lâu mới có thể định thần lại.
Sự thay đổi ở Bùi Nhị Lang thực sự quá lớn.
Ba năm rưỡi trôi qua, ngày hắn đi trên người vẫn còn vài phần khí chất ngông cuồng của thiếu niên, hiện giờ trở về, dung mạo càng thêm lạnh lùng, vẻ kiêu ngạo nghiêm nghị ấy lại pha thêm khí thế sắt máu của binh đao, hoàn toàn là vẻ sắc sảo và thâm trầm của một người đàn ông trưởng thành.
Chẳng những thế, trên người hắn còn mang theo vẻ sắc bén cùng uy áp được tôi luyện qua bao năm chinh chiến giết chóc.
Đôi mắt lạnh lẽo như băng, đồng tử đen thẳm, chỉ cần nhìn một cái cũng khiến người ta không dám đối diện, lòng dạ không khỏi hốt hoảng.
Hắn xuống ngựa, vóc dáng cao tám thước, trường thân ngọc lập, bên hông đeo bội kiếm, bước chân trầm ổn tiến về phía ta.
Ta không đợi hắn mở miệng, đã khẩn trương gọi một tiếng: “Nhị… nhị thúc.”
“Ừ.”
Ngày trước giọng ta thanh mảnh, giọng hắn trầm thấp.
Giờ đây dường như đảo ngược lại, giọng ta rất nhỏ, nhỏ đến mức chính ta cũng thấy hắn có lẽ sẽ không nghe được.
Nhưng hắn không chỉ nghe thấy, mà còn nhẹ nhàng đáp lời.
Tựa hồ hắn còn khẽ cười một tiếng.
Ta không chắc mình có nghe nhầm hay không, khẽ ngạc nhiên nhìn hắn, kết quả lại thực sự thấy khóe môi hắn hơi cong lên, trong đôi mắt thâm trầm có những tia sáng li ti vụn vỡ.
Ta đoan chắc, tiếng “Ừ” vừa rồi thực sự mang theo ý cười.
Điều này càng khiến ta ngẩn ngơ, sững sờ đứng chôn chân tại chỗ.
“Tẩu tẩu! Đây chắc chắn là tẩu tẩu của chúng ta rồi.”
Cho đến khi những người đi sau hắn cũng xuống ngựa, từng người mặc giáp y, dáng vẻ thô kệch cao lớn, vui vẻ tiến lại gần hành lễ với ta, ta mới bừng tỉnh, vội vàng đáp lễ ——
“Các vị quân gia không cần đa lễ, thật chiết sát dân phụ.”
“Không không, tẩu tẩu mới là người không cần đa lễ, chúng ta hổ thẹn không dám nhận.”
“Tẩu tẩu xứng đáng mà, nếu không có bức thư kia của người, mấy huynh đệ chúng ta chẳng biết có còn mạng để đến quận Thao Châu ăn bát tào phớ và canh lòng gà này không. Tướng quân đã nói là làm, chúng ta liền thực sự đến đây, da mặt dày tìm tới cửa, mong tẩu tẩu chớ để bụng.”
Ta bị những lời họ nói làm cho ngơ ngác, tuy chưa hiểu rõ ngọn ngành nhưng cũng biết họ muốn ăn tào phớ và canh lòng gà, vì thế vội vàng xoay người vào tiệm, vừa đi vừa gọi vọng ra ——
“Không bán nữa, không bán nữa, xin lỗi các vị láng giềng, Tiết Ngọc ngày khác sẽ bồi tội với mọi người. Hôm nay nhị thúc nhà ta đã về, còn dẫn theo những nam nhi hào kiệt của Đại Sở vừa từ biên quan trở về, mong mọi người lần sau lại đến, hôm nay sẽ không thu tiền.”


← Chương trước
Chương sau →